
Đây là lượng khí nhà kính phát sinh trực tiếp từ các nguồn do doanh nghiệp sở hữu hoặc có quyền kiểm soát. Các hoạt động phổ biến thuộc Scope 1 trong nhà máy bao gồm:
Quá trình đốt nhiên liệu tĩnh: Đốt than, dầu diezen, khí gas (LPG, rNG) trong các hệ thống lò hơi, lò nung, máy phát điện dự phòng.
Tiêu thụ nhiên liệu động: Xăng, dầu sử dụng cho đội xe vận tải nội bộ, xe nâng, xe xúc thuộc sở hữu của công ty.
Rò rỉ môi chất lạnh: Thất thoát khí gas lạnh (như R22, R410A) từ hệ thống điều hòa không khí, kho lạnh, máy làm mát nước (chiller).
Khí thải công nghiệp: Phát thải sinh ra từ các phản ứng hóa học trong một số quá trình sản xuất đặc thù (như sản xuất xi măng, hóa chất).
Scope 2 bao gồm các nguồn phát thải sinh ra từ quá trình sản xuất ra phần năng lượng mà doanh nghiệp đã mua và tiêu thụ.
Trường hợp phổ biến nhất tại Việt Nam là điện năng mua từ lưới điện quốc gia (EVN). Bản thân doanh nghiệp không trực tiếp đốt than hay khí tại nhà máy để tạo ra điện, nhưng việc doanh nghiệp cắm điện để sử dụng đồng nghĩa với việc phát thải đã xảy ra tại nhà máy nhiệt điện ở đâu đó. Vì vậy, toàn bộ lượng điện, hơi nước hoặc nhiệt năng mua từ bên ngoài sẽ được tính toán và ghi nhận vào Scope 2.
.jpg)
Đây là phạm vi rộng nhất và thường là phần khó thu thập dữ liệu nhất trong kiểm kê khí nhà kính. Scope 3 bao gồm tất cả các nguồn phát thải gián tiếp khác không thuộc Scope 2, phát sinh dọc theo chuỗi giá trị của doanh nghiệp (cả đầu nguồn và hạ nguồn). Cụ thể bao gồm:
Quá trình khai thác và sản xuất nguyên vật liệu đầu vào mà doanh nghiệp mua.
Hoạt động vận chuyển, logistics do bên thứ ba thực hiện.
Các chuyến đi công tác của nhân viên (vé máy bay, tàu xe).
Quá trình xử lý chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp của nhà máy.
Quá trình sử dụng và xử lý sản phẩm sau khi bán ra thị trường.
Khi tự thực hiện kiểm kê, nhiều doanh nghiệp dễ mắc phải những sai lầm cơ bản:
Gom chung tất cả các nguồn phát thải vào một nhóm mà không phân định rõ phạm vi.
Có tư duy đơn giản rằng "chỉ cần gom đủ hóa đơn tiền điện là xong báo cáo", dẫn đến việc bỏ lọt rất nhiều nguồn phát thải trực tiếp (Scope 1) hoặc phát thải chuỗi giá trị (Scope 3).
Phân loại sai ngay từ đầu (ví dụ tính xăng xe thuê ngoài vào Scope 1 thay vì Scope 3), dẫn đến việc tính trùng lặp, thiếu hụt dữ liệu hoặc không thể giải trình được số liệu khi bị đối tác, khách hàng yêu cầu kiểm chứng độc lập.

Để công tác kiểm kê khí nhà kính diễn ra suôn sẻ và chính xác, GEESCO khuyến nghị các doanh nghiệp nên thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Lập danh mục toàn bộ các nguồn phát thải tiềm năng tại cơ sở trước khi bắt tay vào tính toán.
Bước 2: Xác định rõ bộ phận, phòng ban nào đang nắm giữ dữ liệu của từng nguồn phát thải (ví dụ: phòng Kế toán giữ hóa đơn điện, phòng Hành chính giữ lịch trình công tác, phòng Vật tư giữ số liệu mua than).
Bước 3: Thống nhất quy trình và biểu mẫu lưu trữ hồ sơ bằng các hệ thống phần mềm chuyên dụng như ECC Tracker.
Việc làm đúng chuẩn ngay từ những bước đầu tiên sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được rất nhiều thời gian ở khâu tính toán và viết báo cáo cuối cùng.
Xin lưu ý: Dữ liệu phát thải không nằm ở một phòng ban duy nhất. Hãy chia sẻ bài viết này cho bộ phận Kỹ thuật, Môi trường, Mua hàng và Hành chính cùng đọc để tạo sự đồng bộ trong toàn doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp của bạn đang gặp khó khăn trong việc phân loại Scope 1, 2, 3 và cần một giải pháp tư vấn tổng thể, hãy liên hệ ngay với GEESCO:
Hotline: 0911.023.982
Website: www.geescovietnam.com.vn
Email: geescovietnam@gmail.com